Tác giả Võ Long Tê chưƠng I bối cảnh lịch sử



tải về 0.8 Mb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu29.07.2016
Kích0.8 Mb.
#9275
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chú thích

[1] Phạm Đình Khiêm viết về Alexandre de Rhodes dưới tiêu đề “Thuỷ tổ chữ quốc ngữ”: “Khi các giáo sĩ Âu Châu tới giảng đạo, các ngi sng chế ra một lối viết tiếng Việt theo mẫu tự La M, thoạt đầu chỉ có ý cho dễ nhớ bi học Việt ngữ. Đến lượt Cha Đắc Lộ, ngi đ lm cho lối phin m đó hon hảo hơn, đ bắt đầu dng lối chữ đó để soạn sách, v đến khi về La M, đ nhờ ấn qun của Tịa Thnh đúc ring lối chữ mới để ấn hnh cc sch đó. Như vậy, người l vị cĩ cơng nhất trong việc thnh lập “chữ Quốc Ngữ” v chính l thủy tổ cc sch Quốc Ngữ vậy. (Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm quốc ngữ, sđd, tr.XXX)

Thanh Lãng “căn cứ vào chính tài liệu của Đắc Lộ”, kết luận: “Như vậy đã rõ ràng là Đắc Lộ không phải là vào số những nhà truyền giáo đã sáng lập ra chữ quốc ngữ mà chỉ là người có công lớn mà thôi, nhưng xác định cho rõ cái phần đóng góp riêng của Đắc Lộ là bao nhiêu, quả thực là khó khăn khi mà ta chưa tìm ra được những sách vở đã xuất bản trước Đắc Lộ”. (Những chặng đường của chữ viết quốc ngữ, bđd, tr.14-15)



Trương Bửu Lâm, đưa rà một ý kiến trung dung: “Vậy thì không còn ai có thể bào chữa thuyết cho rằng giáo sĩ Đắc Lộ là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ. Nhưng một điều mà không ai có thể chối cãi được là, trong tình trạng hiện tại của vấn đề chữ quốc ngữ, trong những tài liệu mà chúng ta còn giữ lại đuợc liên quan đến thứ chữ ấy thì giáo sĩ Đắc Lộ là người có công rất lớn” (Vài lời phi lộ, Việt nam khảo cổ tập san, số 2, sđd, tr.9).

[2] Chúng tôi tin theo sự suy luận của Phạm Đình Khiêm. Theo các sách đã xuất bản thì Alexandre de Rhodes chào đời ngày 15-3-1591.

[3] Theo Gaide, trong Quelques renseignements sur la famille de De Rhodes (BAVH, 1927 tr.22) gia đình Đắc Lộ đến Avignon vào cuối thế kỷ 15. Phạm Đình Khiêm “xét ra không đúng. Giáo sĩ sinh vào những năm chót thế kỷ 16, mà gia đình đến Avignon mới từ đời ông nội mà thôi, vậy thì chỉ độ 5, 6 chục năm về trước”.

[4] A.de Rhodes, Voyages et Missions (1654) tr.88-89, Phạm Đình Khiêm trích dịch, bđd, tr.XVIII

[5] A.de Rhodes chép là Onghebộ tức là quan cai bộ (cai bạ). Phạm Đình Khiêm giải thích: “Cứ theo danh xưng như nói trên, và theo cách giáo sĩ Đắc Lộ tả về chức vụ của ông, thì ông không phải là trấn thủ cũng không phải là ký lục. Lúc ấy quan trấn thủ tuy có quyền tuyệt đối trong dinh, song có lẽ quá bận riêng về quân sự, nên ông cai bộ này hành động như không có ai quyền trên. Còn quan ký lục, tuy lo việc từ tụng văn án, nhưng chắc là quyền dưới, vả lại việc phân quyền giữa hành pháp và tư pháp lúc ấy chưa rõ rệt. Vì thế mà ta sẽ thấy “Ông Nghè Bộ” ra lệnh bắt thầy giảng Anrê, triệu tập phiên tòa (có quan khác dự) và tuyên án xử tử. Sử liệu không ghi lại tính danh của ông, song từ đây tiếng xưng hô “Ông Nghè Bộ” đã trở nên tên riêng của ông rồi.” [Người chứng thứ nhất, tr.116-117)

[6] Phạm Đình Khiêm có viết về ngày từ trần của giáo sĩ Đắc Lộ như sau: Rất nhiều tác giả, trong đó có cha Cadière và chúng tôi, trước đây viết giáo sĩ Đắc Lộ từ trần ngày 16 tháng 11 năm 1660. Cũng có một tài liệu ghi một nhật ký khác nữa. Theo sự tra cứu cuối cùng của chúng tôi, thì ngày 5 tháng 11 là đúng hơn cả. bộ Ménologe của dòng Tên ở La mã khi chép tiểu sử giáo sĩ và nói ngày người chết là 5-11-1660, có kể trong số tài liệu tham khảo, một bức thư luân lưu của cha Aimé Chézaud viết tại Ispaphan ngày 11 tháng 11 năm 1660 nói về việc cha Đắc Lộ từ trần. Đó là chứng cớ rõ ràng nhất. (bđd, tr.XXXIV). Chúng tôi dựa theo bđd của Phạm Đình Khiêm để viết phần tiểu sử trên đây.

[7] Nguyễn Khắc Xuyên có lược khảo về việc xuất bản những tác phẩm của Alexandre de Rhodes trong bài “Giáo sĩ Đắc Lộ với công việc xuất bản”, in trong Việt Nam khảo cổ tập san, số 2, 1960.

[8] Theo bản dịch của Thanh Lãng, Biểu nhất lãm văn học cận đại, sđd, tr.23. Cau bang = Cao Bằng, bấy giờ thuộc về nhà Mạc, Ciampa = Chiêm Thành, Laorum = Lào, Siam = Thái Lan.

[9] Xem chương VI, tiểu mục Gaspar d’Amaral và Antoino Barbosa.

[10] Theo Thanh Lãng, sđd, tr.22.

[11] Thanh Lãng trích dịch, sđd, tr.24. Về các điểm này, xem thêm chương VIII, tiểu mục I sau đây.

[12] Theo Thanh Lãng, sđd, tr.33-36

[13] Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ Đắc Lộ với chữ quốc ngữ, tr.97.

[14] Chúng ta hãy lưu ý đến lối chính tả đương thời, đặc biệt về lối viết hoa về các nhân danh.

[15] André Marillier viết là xiêu nhiệm

[16] Là công dân Đức giáo hoàng như đã nói ở phần tiểu sử, giáo sĩ Alexandre de Rhodes hoạt động vì sứ mạng truyền bá Phúc Âm. Công trình văn học của giáo sĩ dù to tát đến đâu cũng là phụ thuộc sánh với sự nghiệp thành lập Giáo hội Việt Nam mà giáo sĩ đã tích cực góp phần xây dựng.
CHƯƠNG VIII - VĂN HỌC CÔNG GIÁO CHỮ QUỐC NGỮ (TIẾP THEO)





B. ĐỊA VỊ CỦA GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES

Công trình ngữ học và văn học của giáo sĩ Alexandre de Rhodes vượt phạm vi cộng đồng công giáo mà ảnh hưởng đến toàn bộ văn học quốc gia. Nói đến đài kỷ niệm dựng ở Hà Nội năm 1941 để ghi ơn giáo sĩ Alexandre de Rhodes, học giả Nguyễn Văn Tố đã viết: “Mỗi lần chúng ta đi qua giữa những cảnh trí lịch sử này (nơi dựng bia) chúng ta sẽ tưởng niệm cùng một lúc cụ Hàn Thuyên, cha đẻ chữ Nôm, và vị giáo sĩ Dòng Tên, ngoài việc hoàn thành chữ quốc ngữ, còn cống hiến cho ta những tài liệu quan trọng về lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.”[1]Đối chiếu Hàn Thuyên với Alexandre de Rhodes, học giả Nguyễn Văn Tố muốn chúng ta lưu ý đến công trình tiên phong của Hàn Thuyên trong việc phát động nền văn học chữ nôm và của Alexandre de Rhodes trong việc phát động nền văn học chữ quốc ngữ.

 

I. GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES VÀ CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ

Khi giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Việt Nam 1625, công việc la mã hóa chữ viết quốc ngữ đã bắt đầu[2] nhờ ảnh hưởng của các công trình la mã hóa Nhật ngữ và phiêm âm Hoa ngữ.[3]

Hoàn cảnh khách quan thúc đẩy giáo sĩ Alexandre de Rhodes theo dõi phong trào, và nhờ khả năng đặc biệt về ngôn ngữ, giáo sĩ đã hoàn thành việc sáng chế chữ quốc ngữ một cách tốt đẹp.

1. Khả năng đa ngữ

Như đã trình bày trong phần tiểu sử, lúc đặt chân lên đất Ấn Độ, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã thông thạo ba ngôn ngữ cổ và ba sinh ngữ thông dụng. Ba ngôn ngữ cổ là tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp, tiếng Latin. Ba sinh ngữ thông dụng là tiếng Pháp, tiếng Ý là tiếng nói trong thủ đô Giáo hội Roma, tiếng Bồ là tiếng phổ thông trong đế quốc Bồ Đào Nha.

Vừa đến Goa, giáo sĩ bắt đầu học tiếng bổn xứ, và chỉ trong ba tháng, giáo sĩ đã có thể giao thiệp và giảng dạy bằng tiếng canarin[4].

Đến Áo Môn, giáo sĩ bắt đầu tiếp xúc với chữ Hán và bắt đầu học chữ Nhật vì giáo sĩ được chỉ định đến truyền giáo ở Nhật Bản. Theo Nguyễn Khắc Xuyên[5]  Mặc dầu giáo sĩ có lẽ không viết được Hán tự, song ngài có thể tạm nói được tiếng Trung Hoa (và có lẽ cả tiếng Nhật). Tắt một lời, trong cuốn Văn phạm…ngài đã có lần so sánh các âm vận Nhật ngữ và Hoa ngữ với Việt ngữ” 

Nhưng ý Chúa Quan phòng lại đưa giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong và giáo sĩ có dịp học hỏi Việt ngữ. Giáo sĩ thú nhận: “Vừa tới miền Nam và nghe người bản xứ nói với nhau, nhất là phụ nữ, thì tôi tưởng như được nghe chim líu lo hót, đồng thời tôi tưởng không bao giờ có thể học được thứ tiếng đó”[6]. Nhưng đó chỉ là cảm tưởng đầu tiên. Sau sáu tháng học hỏi, nhờ một thanh niên Việt Nam và nhất là nhờ giáo sĩ Francesco de Pina, giáo sĩ đã có thể giao thiệp, giảng dạy bằng tiếng Việt.

Sau hai năm ở Đàng Trong, giáo sĩ lại được phái ra Đàng Ngoài nên giáo sĩ có cơ hội so sánh cách phát âm ở hai miền. Từ năm 1630 đến 1640, giáo sĩ làm giáo sư thần học ở Áo Môn. Đây là thời gian thuận tiện cho giáo sĩ nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng khi trở lại Đàng Trong năm 1640 để thay thế giáo sĩ Buzomi, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã khởi thảo các tác phẩm chữ quốc ngữ. Tiếc rằng chúng ta chưa tìm ra tài liệu để hiểu biết về bản thảo hay tiền thân của các tác phẩm in năm 1651.



2. Hệ thống mẫu tự phiên âm

Qua ba tác phẩm chữ quốc ngữ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta có một hệ thống mẫu tự, phiên âm gần như là hoàn toàn, không khác hệ thống thông dụng hiện nay bao nhiêu.

a. Về nguyên âm, Alexandre de Rhodes dùng nguyên âm đơn, nguyên âm kép và nguyên âm ba.

Nguyên âm đơn: a ă â e ê i o ô ơ u ơ.

Nguyên âm kép: ai ay ao au âu/ eo êu/ ia iê io iơ iu iư / oa oe oi ôi ơi / ua uâ ui uy uô uơ ưa ưi ươ ưu.

Nguyên âm ba: iai iay iây / iao iau iây / ieo iêu / ioi iôi iơi / iơũ / (iua) iưa iơư iuô / oai uay uây / uie uôi / ươi ưởu.

Chúng ta nhận thấy trước Alexandre de Rhodes chưa có nguyên âm ba, và với Alexandre de Rhodes chỉ còn thiếu nguyên âm ba iua, nhưng lại thừa nguyên âm ba iơũ còn uyê thì viết uiê (nguiên = nguyên).

b. Về phụ âm: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng những phụ âm đơn như: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, q, r, s, t, x và những phụ âm kép như: bl, ch, gh, kh, ml, ng, ngh, nh, ph, th, tl.

Chúng ta nhận thấy thiếu phụ âm v và các phụ âm kép bl, ml, tl ngày nay không còn thông dụng nữa.

c. Về dấu chữ: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng đủ các dấu trên chữ i, dấu mũ (^), dấu râu như các chữ ơ, ư, dấu ( ) trên các chữ ă và chủ trương bỏ hẳn dấu hai chấm trên các chữ i.

d. Về dấu giọng: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng đủ các dấu sắc hỏi nặng ngã huyền.
3. Đối chiếu chữ quốc ngữ theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes với chữ quốc ngữ ngày nay.

Đối chiếu với chữ quốc ngữ ngày nay, chữ quốc ngữ theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes có một số điểm dị biệt.


a. Theo Phép giảng tám ngày:

ă không dùng đúng chỗ, khi không cần lại xuất hiện (như hăọc thay vị học, nhăọc thay vì nhọc) khi đáng dùng ă lại viết là a (như bàng thay vì bằng, mạt thay vì mặt).

õ (có dấu ngửa như ă) thường dùng trước nguyên âm như a hoặc u (như đoạn thì viết là đõạn, địa ngục thì viết là địa ngõục).

ê thường dùng thay cho â (như lấy thì viết là lếy, đất thì viết là đết).

â thường thay cho ô (như muốn thì viết muấn, nhường thì viết là nhưầng).

Dấu (tilde) dùng để thay cho ng cuối một chữ (như cũng thì viết là cũ, ông thì viết là ôũ; tuy nhiên có nhiều chữ vẫn viết với ng n hư chẳng, chưng).

ao thường thay cho o (trong aõ thay cho ong, lòng thì viết là laõ, đóng thì viết là đáõ, song thì viết là saõ).

ou thường thay cho ô trong oũ thay cho ông (như sống thì viết là sóũ, đồng thì viết là đòũ, không thì viết là khoũ).

Chữ “Bêta” Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hoàng Xuân Hãn) dùng thay cho v (như vua thì viết là bvua, vào thì viết là bvèao, vui vẻ thì viết là bvui-bvẻ).

c nhiều khi thay cho q (như quên thì viết là cuên, quyền thì viết là cuyền; tuy nhiên chữ q có lúc vẫn đúng như ngày nay: quan, quỉ).

bl dùng thay cho tr, gi hay l (như blời thay vì trời, giời, lời; blái thay vì trái, lái).

ml thay vì nh hoặc l (như mle thay vì nhẽ hay lẽ; mlớ thay vì nhớn hay lớn).

tl dùng thay vì tr (như tlước thay vì trước, tlâu thay vì trâu).

i dùng thay vì y (như nguyên thì viết nguiên).

Nhiều tiếng được phiên âm theo thổ âm như nhất, nhứt thì viết là nhít; nhân, nhơn thì viết là nhin; rất thì viết là rứt; gửi, gởi thì viết là gưởi; nhiêu thì viết nhêu; vâng thì viết là bvưng.
b. Theo Tự điển Việt-Bồ-La:

ă vẫn thông dụng trong tự điện như đọc thì viết là đăọc, móc thì viết là măóc, sách thì viết là sắch. Nhưng một vài nơi, cuốn tự điển đã phiên âm như ngày nay (như chữ ngọc, tự điển ghi: hãy coi chữ ngăọc, về chữ răọc-răọc, hãy coi chữ rọc rọc).

e không còn dùng nữa[7] (như da ghi hãy goi dea, dài ghi hãy coi dàei).

o vẫn còn được duy trì như[8] hoa, khoa… Tuy nhiên có một vài sự thay đổi (như về chữ tục thì ghi hãy coi toục, ngục thì ghi hãy coi ngoục).

ê thường được thay thế bằng chữ â trong rất nhiều chữ đầy thay đềy, đấy thay đếy, đây thay đêy…

â đã được thay bằng ô như ruồi = ruầi, nuôi = nuâi và ưâ cũng đã được thay thế bằng ươ (như phương = phưâng, cường = cưầng, cưới = cưấi).

Dấu (tilde) vẫn còn thông dụng. Tuy nhiên ng đã thay thế dấu tilde trong nhiều chữ như về chữ rụng thì ghi hãy coi chữ rũ, xũ thì ghi hãy coi chữ xung.

ao thì vẫn dùng thay cho o.

ou vẫn dùng thay cho ô.

Chữ bêta Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hoàng Xuân Hãn) đã có sự thay đổi (như bvấn – vấn, bvạt = vạt, bvơ = vơ…) Đó là những chữ có ghi ở mục bêta. Đến mục v hoặc u (trong cuốn tự điển thực ra không chư v song chữ u vừa là chữ u thay cho v, chúng ta thấy nhiều chữ bắt đầu bằng phụ âm v.

Nhiều chữ c đã được thay thế bằng q như quên = cuên, quen = coen, quiên = cuiên, quơn = cươn, quấn = cuấn…).

bl vẫn còn dùng như blá (trá), blả (trả), blúc blắc (lúc lắc), blai (trai), blai (trai), blái (trái), blải (trải, giải).

ml đã được thay thế trong nhiều trường hợp theo cách phát âm ngày nay, như mlạt = nhạt (lạt), mlỡ = lỡ (nhỡ) mlầm = lầm, mlớn = lớn (nhớn).

tl vẫn được dùng như tr đã xuất hiện. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã chú: “Tla có người đọc là tra, nghĩa là đổi l thành r và trong những chữ tiếp sau đây cũng đều như vậy cả”[9]


c. Theo văn phạm Việt ngữ

Chữ v như ngày nay chưa có. Tác giả nói người Việt Nam có hai chữ ba và giả thích như sau: “Một chữ giống như chữ b của chúng ta (tức người Tây phương) chẳng hạn như ba, tức con số 3, tuy vậy nó cũng không giống hẳn chữ b của chúng ta. Khi đọc chữ đó không được thở ra phải hít khí vào cũng giống như người muốn đọc chư m, rồi sau mới phát hơi ra. Chữ b thứ hai đọc hầu giống như đọc chữ bêta Hy Lạp chẳng hạn như khi đọc tiếng bèao (vào). Thực ra nó cũng không giống hẳn chữ v của chúng ta vì khi đọc nó không nên hít mạnh lắm, mà chỉ cần mở môi ra như kiểu đọc của người Do Thái chứ không đọc bằng răng” [10].

Ngoài chữ l đọc như ngày nay, giáo sĩ Alexandre de Rhodes ghi nhận ở Đàng Ngoài “còn có chữ l đọc mềm, chen giữa các phụ âm khác như blả (lả=trả); có một miền đọc b ra t, thí dụ như tlả (trả); người ta cũng còn dùng l sau m, thí dụ mlẽ (lẽ), đôi khi dùng l sau p, thí dụ plăn (lăn) nhưng cũng có nơi dùng làn thay vì plàn. Còn việc dùng l sau t thì rất thông dụng, thí dụ tla (tra), tle (tre)” [11].
4. Nhận định về lối phiên âm và chữ viết quốc ngữ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes

Khảo sát chung về công trình ngữ học của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta có thể đưa ra những nhận định sau đây:

Nhận định thứ nhất là giáo sĩ Alexandre de Rhodes dung hòa hai khuynh hướng bảo tồn và canh tân trong tinh thần tôn trọng đặc tính Việt ngữ.

Là người tiếp tục công trình phiên âm, giáo sĩ tôn trọng và bảo tồn những thói quen hợp lý về cách phiên âm. Trong khi bàn về lý do chọn phụ âm ph thay vì f, giáo sĩ tuyên bố theo thói quen và giải thích ph đúng hơn f: “F hay đúng hơn ph, vì khi đọc nó không cần phải tách biệt hai môi như đọc chữ f của chúng ta. Thực ra khi đọc chữ đó, môi chỉ giề ra rất ít và thở rất nhẹ: ở trong tự điển, chúng tôi không dùng chữ f mà sẽ chỉ dùng chữ ph vì các sách đã chép đều quen dùng như vậy”[12]. Một nơi khác, khi bàn về những vần ghép gia, giu, giơ, giư đọc như tiếng Ý (theo giáo sĩ, chứ thật ra không thể đọc như tiếng Ý được), giáo sĩ viết: “Như thế vừa tiện lợi, vừa hợp với thói quen đã dùng trong các sách”[13].

Đành rằng cần phải tôn trọng những thói quen nhưng sự canh tân cũng có những lý do chính đáng, cho nên giáo sĩ đã bỏ thói quen dùng hai chấm trên chữ y, trên chữ a hay o, trong các vần au, ao để tránh những phiền phức vô lý. Nếu chúng ta so sánh cách phiên âm của giáo sĩ Alexandre de Rhodes với cách phiên âm đã có từ đời trước, chúng ta sẽ nhận thấy những cải cách hợp lý như thêm nguyên âm, thêm phụ âm, thêm dấu chữ và dấu giọng.

Nhận định thứ hai là giáo sĩ Alexandre de Rhodes tôn trọng cách phát âm của thời đại và của địa phương trong khi vẫn ý thức về sự thống nhất của Việt ngữ trong toàn quốc:

Lếy (lấy) đết (đất) là ghi theo giọng đọc đặc biệt của vùng Nam Ngãi (thuộc Đàng Trong), còn tlâu (trâu) tlộm (trộm) là viết theo lối phiên âm của một đôi miền ở Đàng Ngoài.

Bvua (vua), bvui-vẻ (vui vẻ) ghi với bêta Hy Lạp, mlạt (nhạt) mlỡ (lỡ) là viết theo cách đọc thông dụng của thời đại.

Về mặt lịch sử địa lý ngôn ngữ học, các sách của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là chứng tích giúp ích cho rất nhiều nhà khảo cổ.

Nhận định thứ ba là giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã làm việc với tinh thần khách quan cần thiết của một nhà ngôn ngữ học. Nếu trong Phép giảng tám ngày, giáo sĩ phải viết theo một lối phiên âm nhất định, trong Văn phạm Việt ngữ và Tự điển Việt Bồ La giáo sĩ cẩn thận giải thích các lối phát âm và đối chiếu những lối viết khác nhau.

Nhận định thứ tư là giáo sĩ Alexandre de Rhodes, với khả năng đa ngữ, đã biết vận dụng ký hiệu của nhiều ngôn ngữ để phiên âm Việt ngữ một cách tinh tường xác đáng.

Về dấu giọng, các dấu sắc huyền ngã lấy trong tiếng Hy Lạp, dấu nặng lấy ở chữ iota dưới, dấu hỏi lấy trong chấm hỏi La ngữ.

Các âm vận cũng được ghi theo ký hiệu thích ứng nhất, thí dụ như:

Q đọc như tiếng la tinh trong qua, qui.

A thì đọc như tiếng Bồ hoặc Sc của tiếng Ý.

R không đọc như tiếng Bồ song đọc như tiếng Ý

Ph đọc như chữ phi trong tiếng Hy Lạp

Ng đọc n hư ngăin của tiếng Do Thái

Nguyễn Khắc Xuyên đã nhận xét rất tinh tường về sự phiên âm Việt ngữ của Alexandre de Rhodes: “Tác giả không trói buộc mình vào một hệ thống nào riêng biệt, một ngôn ngữ nào độc tôn, trái lại căn cứ vào cách phát âm đặc biệt của Việt ngữ, ngài đã tìm trong hết các ngôn ngữ mà ngài được biết ngõ hầu ghi cho xác đáng. Nếu tiếng này không phù hợp thì ngài dùng đến tiếng kia, nếu âm vận ngôn ngữ này xem ra phiền toái, thì ngài không ngần ngại cầu cứu đến ngôn ngữ khác, mặc dầu ngôn ngữ ấy không phải ngôn ngữ riêng của ngài, tiếng mẹ đẻ của ngài. Quả thật, con người quốc tế, tinh thần quốc tế của ngài đã giúp ngài rất nhiều và vì thế công cuộc đã thành tựu và như trên chúng tôi đã nói, sẽ thành tựu lâu bền”.[14]

 

II. GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES VÀ SỰ HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Qua cuốn Văn phạm Việt ngữ, chúng ta thấy giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã thấu triệt những nguyên tắc căn bản của cú pháp Việt Nam. Trong cuốn Phép giảng tám ngày, giáo sĩ đã ứng dụng những nguyên tắc ấy vào việc sáng tác và nhờ đó, ngôn ngữ công giáo Việt Nam được xây dựng trên căn bản ngữ học và thần học vững chắc.

Chúng ta sẽ lần lượt nhận định về giá trị ngữ học, văn học và thần học của cuốn Phép giảng tám ngày.


1. Giá trị ngữ học.

Ngôn ngữ Công giáo trong cuốn Phép giảng tám ngày chứng tỏ tác giả vừa tôn trọng vừa cải tiến những phương thức sáng chế của người đương thời.

Đặc điểm thứ nhất là tác giả chú trọng đến sự diễn đạt trọn vẹn và đầy đủ những yếu tính của đạo Công giáo đến độ nhiều khi phải hy sinh tính chất nhã thuần hay để làm nổi bật nội dung sâu sắc. Tác giả đã dùng lối phiên âm và lối trực dụng từ ngữ Latinh vì chưa tìm ra từ ngữ Việt ngữ tương đương. Thập giá còn ghi là cây Crux, bí tích là sacramento, Chúa Thánh Thần là Spirito santo, kính mừng là Ave, ơn nghĩa Chúa là gratia… Về những danh từ riêng, phương pháp này có thể chấp nhận, nhưng về những danh từ chung, phương thức này tạo nên những từ ngữ lai căn khó nghe.

Đặc điểm thứ hai là tác giả sáng tạo được một số danh từ mới, vừa có tính cách Việt Nam, vừa diễn tả chính xác nội dung của danh từ Latinh tương đương. Đạo Công giáo được mệnh danh là đạo Đức Chúa Trời. Về sứ mạng của Đức Chúa Con, tác giả dùng các động từ giản dị mà thâm thuý như chuộc tội, ra đời, cứu thế. Về Đức Mẹ, tác giả ca tụng là Đức Chúa Bà, Đức Mẹ đồng thân. Rất thánh Đức Mẹ Chúa trời.

Đặc điểm thứ ba là tác giả đã rửa tội một số danh từ tôn giáo sẵn có của dân tộc và giải thích theo tín lý Công giáo. Thiên đàng là thế nào? Tác giả trả lời: “Ai thờ Đức Chúa trời cho nên, thì được lên trên thiên dàng cùng Đức Chúa trời” (Ngày thứ nhất). Về Địa ngục, tác giả cho rằng thế gian gọi là âm phủ thì phải, vì chứng là nơi tối tăm mù mịt (ngày thứ nhất). Tác giả phân biết giác hồn, sinh hồn, linh hồn và dùng linh hồn theo nghĩa Công giáo. Ăn chay, thờ phượng, lỗi nghĩa, phạm đạo là n hững động từ thông dụng nhưng hàm súc ý nghĩa Công giáo nhờ văn mạch.
2. Giá trị văn học.

Xét về phương diện thuần túy văn học, chúng ta nhận thấy nghệ thuật đặc biệt của giáo sĩ Alexandre de Rhodes.

Đầu tiên tác giả dụng ý tạo nên một lối văn phổ thông nhưng không kém phần sâu sắc.

Để mọi giới có thể lãnh hội được chân lý mặc khải, tác giả không dùng những lập luận khó hiểu, những kiểu nói cầu kỳ của những thiên đại luận. Tự nhiên như lúc đàm đạo, thân mật như nói chuyện tâm tình, tác giả đã nhắm mục đích đánh động người nghe hơnlà phô trương sở học. Lần đầu tiên, văn học Việt Nam vang lên những giáo luận thâm trầm nhưng giản dị, dễ hiểu và khuyên mời đi sâu vào sự tìm hiểu chân lý.

Về kỹ thuật hành văn, tác giả vận dụng những phương tiện bút pháp làm cho tác phẩm mang một sắc thái riêng biệt.

Lối giải thích của tác giả rất hấp dẫn, đi từ những hiểu biết sẵn có của người đọc để dẫn đưa đến những giáo điều. Để các nhà nho hiểu chữ Thiên theo nghĩa giáo lý Công giáo, tác giả dùng lối chiết tự: “Chữ thiên là trời, giải thì có hai chữ, một là chữ nhất, hai là chữ đại, nghĩa là một cả. Song le ai là một cả, ắt là Đức Chúa trời sinh ra trời đất muôn vật, thật là một cả: cả và loài người ta thì phải thờ kính đấy, ấy là phải lẽ” (Ngày thứ nhất). Danh ngôn Á Đông thích đáng cũng được viện dẫn để biện minh cho lập luận như sinh ký, tử quy.

Lối cụ thể hóa làm cho văn nghị luận đỡ phần khô khan “làm cho người đọc không hề cảm thấy mình đang đọc một quyển sách đạo” như lời nhận xét của Trương Bửu Lâm[15]. Những hình ảnh và ví dụ làm cho những ý niệm trừu tượng, khó hiểu được lãnh hội dễ dàng hơn. Mười điều răn, theo tác giả là mười bậc thang lên thiên đàng (ngày thứ tám). Về mối tương quan giữa hồn và xác, tác giả đưa ra tương quan chủ-tớ: “Linh hồn như chủ nhà, xác như tôi tá hay là đầy tớ, nó thì phải phục linh hồn như chủ, vì chưng đầy tờ cùng tôi tá làm chủ nhà, hay là chủ nhà làm tôi tá, thì lộn lạo cũng chẳng phải lẽ” (ngày thứ nhất).

Sử gia viết về văn hóa Việt Nam còn có thể tìm thấy trong cuốn Phép giảng tám ngày những tài liệu lịch sử về ngôn ngữ văn học, phong tục, tổ chức xã hội Việt Nam. Tác phẩm này, là một di tích lịch sử về trình độ tiến hóa của văn xuôi quốc âm. Đành rằng câu văn đã mang cá tính tác giả và ảnh hưởng tinh thần phân tích Tây phương với một lối phân cú rõ ràng, nhưng tác giả đã tôn trọng những đặc điểm cố hữu của cú pháp Việt Nam. Ngoài ra, tuy không chủ tâm viết sử, nhưng tác giả vẫn có dip phác họa một đôi nét về xã hội Việt Nam thế kỷ XVII. Về tổ chức chính trị, và tế tự trong nước, tác giả viết:” đầu năm vua chúa Annam làm phép cả, có đại thần cả và nước và quân quốc đều cùng thiên hạ đi cùng, ra giao mà tế thượng đế. Đến khi vua chúa đã tế thượng đế đoạn, thì đại thần cùng kẻ cả trong nước, cùng cả và thiên hạ thì mới lạy vua chúa trước mặt dân. Thôi đoạn ai nấy thì về nhà mà lạy cha mẹ cùng kẻ bề trên minh ông bà ông vãi” (ngày thứ nhất). Về tục đốt vàng mã, tác giả nói đến những người “dùng giấy làm nhà, cúng áo, tiền vàng bạc và các kỳ sự vẽ, mà cúng cha mẹ” (ngày thứ bốn). Chúng ta còn có thể sưu tầm trong cuốn Phép giảng tám ngày nhiều nét chấm phá độc đáo về trình độ sinh hoạt ở nước ta.



3. Giá trị thần học

Nhiều học giả đã phát huy giá trị thần học của cuốn Phép giảng tám ngày[16]. Chúng ta có thể đồng ý với Nguyễn Khắc Xuyên nhận định rằng tác phẩm của giáo sĩ Đắc Lộ “không phải là một cuốn giáo lý đại cương, nhưng là sách giáo lý trình bày trong màu sắc minh giáo, thích hợp cho một dân tộc, một văn hóa riêng biệt là xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVII”[17]. Và như André Mariller đã xác nhận, “người ta có thể nhận thấy trong cuốn Phép giảng tám ngày của giáo sĩ Alexandre de Rhodes một chứng tích của phương pháp giảng dạy giáo lý của các cha dòng Tên ở Á Đông vào thế kỷ XVI-XVII”[18].

Thật ra, nếu chúng ta so sánh với những tác phẩm đồng thời ở Trung Hoa và Nhật Bản[19], tác phẩm của Alexandre de Rhodes có những đặc điểm rõ rệt.

Chính tác giả đã trình bày phương pháp giảng dạy giáo lý của tác giả trong nhiều tác phẩm khác.

Từ khía cạnh hữu lý của tôn giáo, tác giả đưa các tân tòng vào các mầu nhiệm của đạo Công giáo:

“Các chư tăng rất hài lòng vì thấy tôi làm cho họ nhận biết sự hòa hợp giữa Tôn giáo và Lý trí và nhất là họ khen ngợi thập điều của Chúa. Họ nhận ra rằng: không còn gì đáng cho một vị Chúa tể ban bố ra hơn nữa.

“Phương pháp tôi đem trình bày với họ là: trước hết tôi bàn về linh hồn bất tử và sự sống đời sau, rồi từ đó tôi làm chứng có Thượng đế, sự quan phòng của ngài, và dần dần đưa họ tới những mầu nhiệm khó hơn.

“Kinh nghiệm cho hay rằng: lối trình bày giáo lý cho người ngoài Kitô giáo như vậy rất bổ ích. Phương pháp đó, tôi đã giải thích trong sách Giáo lý (Phép giảng tám ngày) mà tôi đã chia làm tám ngày, trong đó tôi cố gắng đề cập đến hết các chân lý căn bản phải dạy cho người ngoài Kitô giáo”.[20]

Nguyễn Khắc Xuyên có công giới thiệu một đoạn văn khác của chính Alexandre de Rhodes mà chúng ta có thể xem là bài tựa của cuốn Phép giảng tám ngày.

“Mặc dầu có nhiều người rao giảng giáo lý Phúc âm cho những nước lương dân chủ trương trước hết phải hủy diệt sai lầm và tà giáo làm cho tâm trí từ bỏ những quan niệm mơ hồ, trước khi xây dựng và giảng dạy những điểm và những nguyên lý của Kitô giáo, theo lệnh Thiên Chúa đã truyền cho một tiên tri rằng: Ta đặt người để diệt và nhổ, để dựng và trồng, còn về mầu nhiệm cao cả về Thiên Chúa Ba Ngôi thì chỉ trình bày cho người tân tòng vào lúc họ đã sẵn sáng chịu phép rửa tội, trước là để không làm rối trí họ vì những hoài nghi có thể nảy sinh về mầu nhiệm cực kỳ cao cả và khôn lường đó. Thế nhưng theo kinh nghiệm, giữa hai cách trên đây, tôi chọn một phương pháp giáo huấn cho các dân nước này. Nghĩa là không chống đối sai lầm các giáo phái Đàng Ngoài trước khi đặt một số các nguyên lý mà chỉ ánh sáng tự nhiên cũng hiểu biết được, như về việc sáng tạo vũ trụ, về cứu cánh và nguyên lý tuyệt đối vạn vật đã được dựng nên và về an bài những loài có lý trí và nhiệm vụ phải nhận biết Người và phụng thờ Người. Như vậy để đặt vào tâm trí họ một nền tảng chắc chắn trên đó đều dựa vào mọi niềm tin khác để không làm cho họ chán nản khi nghe người ta đả phá và khinh dể những thờ tự của mình mặc dầu là giả dối và những tập tục mê tín, đó là sự thường xảy ra. Tôi đã thành công hơn, theo như tôi nhận xét, nếu tôi đem cho họ một ít tâm tình hiếu thảo và mộ mến tự nhiên đối với Đấng Hóa Công và Nguyên lý đệ nhất bản thể họ. Rồi khi đề cập tới truyện đại hồng thủy và lộn lạo các ngôn ngữ thì cho họ biết sợ Thiên Chúa họ phải tôn kính và thờ phượng, từ đó mới đả phá tà đạo mà ma quỷ cũng chỉ đưa vào thế gian sau đại hồng thủy. Rồi sau đó tôi mới đồng ý với những người khác và chưa trình bày cho lương dân mình muốn chinh phục những mầu nhiệm Ba Ngôi thánh, sự Nhập thể và thương khó của Con Thiên Chúa và gieo mầm các chân lý đó trong tâm hồn họ, trước khi nhổ những sai lầm và mê tín dị đoan.”[21]

Theo phương pháp trên đây, tác giả đã lợi dụng những giá trị văn hóa tôn giáo tích cực của dân tộc Việt Nam để trình bày một giáo lý mới. Một mặt khác, tác giả tuân theo lề lối, giảng đạo cổ truyền của giáo hội là kêu gọi vận dụng lý trí để suy luận nhưng vẫn đề cao sự phó thác trong nguyện cầu khiêm nhường, trình bày giáo lý nhưng vẫn thúc đẩy giáo hữu tìm hiểu.

Sau cùng chúng ta cũng nên xét thái độ của tác giả đối với các tín ngưỡng tôn giáo khác ở Việt Nam. Tác giả phân tích tinh vi việc thờ kính thần linh, công nhận những giá trị tích cực của đạo Khổng, thẳng thắn chỉ trích những phong tục dị đoan. Về Phật giáo và Lão giáo, tác giả tỏ thái độ nghiêm khắc, một đôi khi có nhiều phán đoán cực đoan.

Về điểm sau nà, Nguyễn Khắc Xuyên nhận xét: “Những phán đoán của Đắc Lộ về các tôn giáo, một phần đã chịu ảnh hưởng của một khoa thần học “bưng bít” thế kỷ XVI-XVII. Theo giáo lý thiếu sót này (trái với học thuyết cổ truyền tỉ như của các giáo phụ Hy Lạp thế kỷ III-IV) thì ngoài Kitô giáo, chỉ có sai lầm và việc của tà ma quỷ quái trong hết các tôn giáo khác. Chúng tôi không bảo phán đoán này là sai lầm, song không hoàn toàn đúng. Đây là một phán đoán một chiều, đi xa cổ truyền Phúc Âm, các tông đồ và các giáo phụ. Bởi vậy, có thể nói được rằng các nhà truyền giáo thời xưa chưa được sửa soạn đầy đủ để tìm hiểu, cảm thông với các tôn giáo khác. Ngày nay, ngừơi Kitô giáo có một thái độ khác với thái độ có thể nói được là thiếu sót của các nhà truyền giáo thế kỷ XVI-XVII. Các luận điệu quá gay gắt và “độc đoán” không còn thích hợp và không được công nhận. Đó là điều phải lẽ.” [22]

 Những người ngoài Công giáo có thể chỉ trích một vài phán đoán của giáo sĩ Đắc Lộ nhưng thiết tưởng cần phải đặt cuốn Phép giảng tám ngày trong hoàn cảnh lịch sử, trong khuôn khổ của các khoa thần học và truyền giáo thời đại của tác giả để tránh mọi sự hiểu lầm có thể có trong hiện tại.



Trong văn học chữ quốc ngữ nói chung và văn học công giáo Việt Nam nói riêng, giáo sĩ Đắc Lộ giữ địa vị của một nhà khai sáng tiền phong. Trong một viễn tượng lịch sử, chúng ta đã nhận thấy giáo sĩ Đắc Lộ là người đã hoàn tất một sự nghiệp chung của nhiều thế hệ thừa sai. Nhưng trong công việc hoàn tất ấy, giáo sĩ Đắc Lộ đã dự phần đóng góp quan trọng. Lịch sử văn học Việt Nam trân trọng nhắc nhở đến giáo sĩ Đắc Lộ không phải chỉ vì các tác phẩm của giáo sĩ được may mắn ấn loát và lưu truyền, mà chính còn là vì đã thể hiện những giá trị hiển nhiên, gây nên một phòng trào văn học mới ở nước ta.

Каталог: wp-content -> uploads -> downloads -> 2011
2011 -> CÔng đỒng vatican II qua bốn thập niêN
2011 -> TÒa giám mục xã ĐOÀi chỉ nam giáo phận vinh lưỢC ĐỒ TỔng quáT
2011 -> 1. phép lạ thánh thể ĐẦu tiên khoảng năm 700 Tại làng Lanciano, nước Ý (italy)
2011 -> Thiên chúa giáo và tam giáO Đường Thi Trương Kỷ
2011 -> LỊch sử truyền giáo tại việt nam quyển II lm. Nguyễn hồng chưƠng I: MỘt cha dòng têN Ở việt nam tới rôMA
2011 -> Các mẫu thức MẠc khải lm. Lê Công Đức
2011 -> Một lời nói đầu không phải là nơi nhiều chỗđể tóm lược lập luận của một cuốn sách cũng như định vị hoặc phát biểu về sựquan trọng của nó. Đây quả thực là một cuốn sách rất quan trọng
2011 -> LỜi giới thiệu suy tư ban đẦu về MẦu nhiệm giêSU
2011 -> Tu luật thánh biểN ĐỨc ngày 1 tháng 1

tải về 0.8 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©ua.originaldll.com 2024
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương