Chuyện phiếM ĐẠO ĐỜi tập VI nhà xuất bản hội nhà VĂn cùng một tác giả



tải về 2.12 Mb.
trang7/25
Chuyển đổi dữ liệu23.08.2016
Kích2.12 Mb.
#26243
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   25

13. “Có lứa đôi yêu nhau rồi,

Hẹn rằng còn mãi khôn nguôi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy: Khúc Hát Thanh Xuân)
(2Cr 13: 11)

“Yêu nhau rồi”, thì lứa đôi chắc chắn là sẽ “hẹn mãi khôn nguôi”, như lời dịch của lão gia ngành nhạc, rất họ Phạm. Thật tình mà nói, khi sáng tác nhạc bản này, danh tài Johann Strauss Jr co chọn đầu đề bên tiếng Em (ấy chết, bên tiếng Anh chứ!) là: “When We Were Young” (tức: “Khi ta còn trẻ”) hay không?


Trong khi bên tiếng mẹ đẻ ra bần đạo, thì bậc lão thành nghệ sĩ họ Phạm lại dịch, là: Khúc Hát Thanh Xuân”. Làm như thể, tuổi thanh xuân mới có khúc hát, rất như thế. Và chỉ người trẻ mới nói được “nhớ tới câu thương yêu người”, mà thôi.
Bần đạo đây, xin nhân danh các vị cao niên hoặc đứng tuổi, và xin mạn phép bạn Ngọc Trần là người viết lên câu truyện ngăn ngắn ở bên dưới đây, để có lời phản đối, một tí chút. Phản để đối đáp, đối đầu cùng đối chiếu với bạn và với tôi, bằng câu truyện kể rất dễ nể, ở bên dưới mà rằng:
“Ngày đẹp trời nọ, cặp vợ chồng khoảng trên 60, đến văn phòng luật sư làm thủ tục ly hôn. Lúc đầu vị luật sư rất lấy làm ngạc nhiên. Nhưng sau khi nói chuyện với hai vợ chồng, ông cũng hiểu được lý do tại sao, lại có chuyện này…
Hơn 40 năm chung sống, hai vợ chồng luôn cãi nhau, suốt đời. Và, dường như họ chẳng bao giờ đi đến được quyết định đứng đắn nào cả. Họ vẫn chịu đựng nhau như vậy, mãi đến hôm nay là vì con cái. Con cái họ giờ đây đã khôn lớn, có gia đình. Nên, hai vợ chồng già không còn lo điều gì. Họ muốn được tự do sau những năm chung sống, không hạnh phúc. Cả hai đều đồng ý tiến đến ly hôn.
Hoàn tất thủ tục ly hôn cho vợ chồng này, đối với vị luật sư, không phải là chuyện dễ. Ông thực sự không hiểu vì sao, sau 40 năm chung sống, cả hai đã đến tuổi 60 rồi, mà vợ chồng vẫn muốn ly hôn. Đặt tay ký giấy tờ, người vợ bèn nói với chồng:
-Tôi thực sự yêu ông, nhưng không thể sống chung thêm được nữa. Tôi xin lỗi.
-Không sao. Tôi hiểu mà!
Nhìn cảnh này, vị luật sư bèn đề nghị là hai vợ chồng nên cùng nhau đi ăn tối một lần cuối, có luật sư mời. Người vợ nghĩ bụng: “Sao lại không? Ly hôn rồi, mình vẫn là bạn cơ mà…” Bên bàn ăn, là không khí im lặng đến ngộp thở. Món ăn đầu mang ra, là gà quay. Lập tức, người chồng cầm đũa gắp ngay miếng đùi gà trao cho vợ rồi nói:
-Bà ăn đi. Đây là món bà vẫn thích đấy
Nhìn cảnh hai vợ chồng tiếp thức ăn cho nhau, vị luật sư nghĩ bụng: “vẫn còn cơ hội!” Nhưng ngay sau đó, người vợ cau có nói:

-Vấn đề là ở đấy đấy. Ông luôn tự đề cao mình một cách quá đáng. Giờ này mà ông vẫn không hiểu được tâm tư của tôi. Ông không biết là tôi ghét đùi gà đến thế nào sao?


Có một điều mà người vợ không biết, là: bao năm qua, chồng bà luôn cố gắng để làm bà hài lòng. Bà không biết, đùi gà là món ông thích nhất, cũng như ông không biết là bà chưa bao giờ nghĩ là ông hiểu rõ bà hết. Ông không biết là bà thù ghét đùi gà vì bà không nói ra và ông thì chỉ muốn dành những miếng ngon nhất, những điều tốt nhất cho bà, mà thôi.
Đêm đó, cả hai vợ chồng đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, ông chồng không thể chịu đựng được nữa, ông biết rằng ông vẫn còn yêu bà và không thể sống mà lại thiếu bà. Ông muốn bà quay trở lại với ông. Ông muốn nói tiếng “xin lỗi” và “tôi yêu bà”. Ông nhấc điện thoại lên bắt đầu bấm số của bà. Chuông điện thoại reo liên hồi, ông càng tiếp tục giữ máy. Ở đầu bên kia, người vợ cũng thấy buồn. Bà không hiểu điều gì xảy đến sau bao năm chung sống. Ông ấy vẫn không hiểu mình. Bà vẫn yêu ông nhưng không thể chịu đựng cuộc sống như vậy nữa.
Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không trả lời vì biết rằng người gọi cho bà chính là ông, chứ chẳng ai khác. Bà nghĩ: “Nói làm gì nữa, khi mọi chuyện đã hết. Chính mình đòi ly hôn mà! Đã lỡ ném lao thì phải theo lao, nếu không sẽ mất mặt lắm.” Chuông điện thoại vẫn reo. Nhưng bà quyết định dứt dây nối ra khỏi điện thoại. Bà đã quên một điều là ông từng bị đau tim.
Hôm sau, bà nhận được tin ông mất. Như người quẫn trí, bà chạy nhanh đến nhà của ông, nhìn xác ông nằm sõng xoài trên chiếc đi-văng, tay vẫn giữ chặt cần điện thoại. Ông bị nghẹt máu cơ tim trong khi cố gọi cho bà. Bà vô cùng đau đớn. Một cảm giác mất mát quá lớn phủ trùm lên cả tâm trí bà. Bà phải mau mau thanh toán tài sản của ông. Khi nhìn vào phía trong ngăn kéo, bất chợt bà thấy tờ hợp đồng bảo hiểm đã được lập từ ngày cưới, do ông làm.
Đính kèm tờ hợp đồng, là mẩu giấy có giòng chữ ghi rõ: “Gửi người vợ thân yêu nhất của tôi. Vào lúc bà đọc tờ này, chắc tôi không còn sống trên cõi đời này nữa. Tôi đã mua bảo hiểm cho bà. Chỉ mất có 100 đô thôi. Nhưng hy vọng nó có thể giúp tôi thực hiện lời hứa của mình khi lấy nhau. Tôi đã không thể ở cạnh bà được nữa. Nhưng tôi muốn số tiền này tiếp tục chăm sóc bà. Đó là cách mà tôi cũng sẽ làm nếu như tôi còn sống. Tôi muốn bà hiểu cho rằng tôi sẽ luôn ở cạnh bà. Yêu bà thật nhiều.”
Nước mắt người vợ già cứ thế tuôn rơi. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói lời “xin lỗi”, và ba tiếng “tôi yêu ông.” Nhưng trễ rồi. Ông không còn nghe được tiếng bà nữa.” (trích điện thư do một người bạn chưa quen gửi hôm 09/06/2011)
Thế đấy. Chuyện ở trên, tuy không là bằng chứng cụ thể để nói lên điều mà bần đạo muốn nói. Ý bảo rằng: bậc cao niên hay đứng tuổi vẫn có thể nói tuy không thể hát được những lời này:
“Ngày ấy khi Xuân ra đời

Một trời bình minh có lũ chim vui

Có lứa đôi, yêu nhau rồi

Hẹn rằng còn mãi không nguôi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)
Đã “Yêu nhau rồi, mà lại hẹn: Còn mãi khôn nguôi!” , tức: sẽ không ngừng yêu nhau mãi mãi, dù đói/no, cay đắng/ngọt bùi, hoạ/phúc như lời thề trước Thượng Đế, ngày hợp hôn khi trước.Chính vì thế, người nghệ sĩ mới hứng thú có câu thơ, thêm vào bài hát. Cứ hát rằng

“Nhạc lắng hương xuân bồi hồi

Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi

Nói với nhau, yêu nhau rồi

Một ngày còn mới tươi môi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)


“Còn mãi tươi môi”, hay tốt tươi cuộc đời người sao đó, cũng chẳng ai biết. Chỉ biết có mỗi điều, là: hễ nói về tình yêu tươi mát, lúc ban đầu, thì người người đều sẽ hiểu. Và dễ nhớ. Tuy nhiên, nói về tình yêu có tươi và mát như ba mươi/bốn mươi năm về trước hay không, vẫn là điều chẳng ai dám quyết đoán. Bởi, sau bấy nhiêu năm chung sống, mà còn hiểu nhau, còn đồng ý với nhau về rất nhiều chuyện, đó mới là vấn đề. Đó mới khó. Khó hiểu và khó nói, như lời chia sẻ của người trẻ nọ, về thơ văn/âm nhạc của người mình, như sau:
“Hôm rồi, tình cờ tôi được nghe cô ca sĩ ở Sydney hát một bài lại được người điều khiển chương trình giới thiệu rằng: bài hát ấy do nghệ sĩ Vũ Thành An sáng tác, đó là “Bài Không tên số 50”. Nghe cô hát, bản thân tôi, lúc ấy thấy ca từ của bài này cũng rất quen, nhưng không nhớ được xuất xứ cùng tác giả lời tiếng Việt, mà chỉ mang máng nhớ mình có đọc một bản dịch từ tiếng Anh ở đâu đó, có ý nghĩa cũng tương tự.
Nay, tìm đọc trong các sách, tôi mới khám phá ra rằng: đây là bài thơ lừng danh của thi sĩ gốc người thiểu số xứ Armênia, từng sinh sống bên hồ Van thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, có tên là Silva Kaputikyan (1919-2006). Những năm về sau, bà chạy sang Nga xin tỵ nạn chính trị; và rồi có chân trong Hàn Lâm Viện Quốc gia của Nga. Bà cũng được Viện Đại Học Cambridge của Anh bình chọn là người phụ nữ tiêu biểu trong năm 1998. Vì bài thơ này quá hay, nên đã có không ít người ghi sai tên thực của tác giả, hoặc cho đó là bài thơ của thi sĩ người Nga nào khác như Olga Bergols, hay thậm chí như Evgueni Evtushenko, hoặc đại thi hào người Nga là Alexander Pushkin (1799-1837) nữa.
Chưa hết, ở Việt Nam có người còn viết rõ ngay trên báo hẳn hòi, cho rằng tác giả là thi sĩ người Đức tên là Heinrich Heine (1797-1856). Có biết đâu rằng, ông thi sĩ người Đức kia chỉ sáng tác bài thơ có tựa đề là “Anh và Em” với nội dung thật khác hẳn. Kể ra, thì trí nhớ của phận hèn bọn tôi cũng không đến nỗi tệ. Và để chứng minh điều lầm lẫn này, xin trích nguyên văn dưới đây ca từ của bài không tên số 50, để thấy đuợc rằng ca từ của người nghệ sĩ nổi tiếng thời hôm trước có xuất xứ từ đâu ra:
“Em bảo : Anh đi đi

Sao anh không đứng lại?

Em bảo : Anh đừng đợi

Sao anh vội về ngay?

Lời nói thoảng gió bay

Ðôi mắt huyền đẫm lệ

Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em

Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em

Không nhìn vào mắt sầu

Không nhìn vào mắt sâu ?

Những chuyện buồn qua đi

Xin anh không nhắc lại

Em ngu khờ vụng dại

Anh mơ mộng viễn vông

Ðời sống nghiệt ngã không

cho chúng mình ấm mộng

Thì thôi xin gửi sóng

Ðưa tình về cuối sông

Thì thôi xin gửi sóng

Ðưa tình về cuối sông

Ðưa tình về với mộng

Ðưa tinh vào cõi không.”


Có thể nói: ca từ của bài hát này nghe rất mượt mà, khác với ca từ ở những “bài không tên khác”, cũng do cùng một nghệ sĩ sáng tác. Có một điều mà nghệ sĩ nói ở đây đã quên sót, là không trích nốt câu thơ chót, vẫn chứa đầy ý tứ hơn. Ý tứ này đã được thi sĩ Xuân Diệu chuyển qua tiếng Việt, thì phải. Ngoài ra, cũng có nhiều bản dịch khác từ bài thơ này, như của Huyền Anh, Trần Đăng Khoa… Tựu trung, chỉ có bản của Xuân Diệu là lột tả được giọng điệu vừa trữ tình vừa nghe như lời thủ thỉ rất can trường, nhưng đầy nữ tính của nhà thơ:
“Em bảo : "Anh đi đi"

Sao anh không đứng lại ?

Em bảo : "Anh đừng đợi"

Sao anh vội về ngay ?


Lời nói thoảng gió bay

Đôi mắt huyền đẫm lệ

Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em


Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em

Không nhìn vào mắt sầu

Không nhìn vào mắt sâu ?


Những chuyện buồn qua đi

Xin anh không nhắc lại

Em ngu khờ vụng dại

Anh mơ mộng viễn vông


Đời sống nghiệt ngã không

cho chúng mình ấm mộng

Thì thôi xin gửi sóng

Đưa tình về cuối sông


Thì thôi xin gửi sóng

Đưa tình về cuối sông

Đưa tình về với mộng

Đưa tình vào cõi không.

Em bảo: “Anh đi đi!

Sao anh không ở lại?

Em bảo: “Đợi chờ chi”!

Sao anh xa em mãi?


Lời em buông cứng cỏi,

Lệ em trào mắt đen.

Sao anh tin lời nói,

Mà không nhìn mắt em?”

(trích điện thư tâm tình của người trẻ mang tên Anthony Trần, ở Sydney 16.06.2011)
Trích dẫn nơi đây những tâm tình rất thẳng thắn của người trẻ thích nghiên cứu về lịch sử âm nhạc của Việt Nam, bần đạo chỉ dám trích để phiếm vội đôi hàng về lời thơ và ca từ trong nhạc bản, được chuyển ngữ. Trích và dẫn, để bà con mình có được đôi phút thư giãn và thả lỏng con người, sau những ngày bàn luận cũng khá căng về thần học, với học thần. Tức, học về những gì là thần thiêng, siêng chăm, cũng rất thánh.

Trần tình với bạn và với tôi như thế rồi, nay bần đạo xin mạn phép được nói thêm về một thứ trần tình hay tình trần của người phàm trần đã có dịp hát lên cuối của bài hát mang tên “Khúc Hát Thanh Xuân” , có những lời đuợc lập đi lập lại như sau:


“Rồi nắm tay cùng nói vui

Những câu êm êm không rời vai.

Rồi lả lơi, hình dáng ai

Khuất xa biến vào nẻo khơi.


Từ đó khi xuân tái hồi

Cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi.

Nhớ tới câu thương yêu người

Một ngày tuổi mới đôi mươi .”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)
Nói đi thì lại nói lại, là nói những lời như trên, chỉ để kết hợp với lời nói làm bằng về những điều mà tác giả nọ vẫn cứ bảo “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”, của các thánh ở nhà Đạo. Và, nói đi thì lại nói lại lần nữa, là nói thêm đôi điều của thánh nhân rất “cao cả” của Hội thánh, từng có những lời như sau:
“Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện.

Hãy khuyến khích nhau,

hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà.

Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an,

sẽ ở cùng anh em.

(2Cr 13: 11).


Và, một khi đã nắm chắc được như lời thánh nhân khẳng định, rằng: “Thiên Chúa là nguồn yêu thương, sẽ ở cùng anh chị em” , thì ta cứ tha hồ mà nói và hát. Miễn là lời nói và hát của tôi và của bạn, không làm phiền hà, một ai hết. Cũng không là “Cớ vấp phạm” cho ai hết, đích thật là điều vẫn nên nói, và nên hát. Chí ít, là hát và nói những “Khúc hát (rất) Thanh Xuân”.
Trần Ngọc Mười Hai

Ở tuổi này

chừng như vẫn còn tập nói và hát

những lời lẽ rất yêu đương,

của những người đương yêu

như bao giờ.


_________________________________________________________________

14. “Ðừng, lừa dối nhau.”

Ðừng nói "yêu", khi ta gần nhau”

Ðừng, lừa dối nhau”

Vì biết đâu, tin nơi tình yêu…”

(Y Vân – Đừng Lừa Dối Nhau)
(Mc 10: 21-22)

Có những chữ “Đừng!”, mà khi đã nói ra hay nói vào, thì chính người nói lại vẫn cứ mừng. Mừng, là vì nói thì nói thế, chứ nhiều lúc người nói vẫn bảo và vẫn hát bằng câu ca: “Anh cứ hẹn nhưng xin anh “đừng” đến nhé!”. Bảo và hát như thế, thì có ma nào hiểu nổi? Và, ai mà theo được?


Thẳng thừng ra, thì bà con anh em mình chỉ hiểu chữ “đừng” là “chớ nên”, mà thôi. Chứ, làm sao hiểu nổi “lời hay ý đẹp” cũng rất “đừng”, như giòng nhạc của nghệ sĩ, có ca từ như sau:
“Hãy, giữ lấy hồn ta

Ðừng cho ước mơ, gọi lòng say sưa

Thấy, khi đôi vai kề

Chắc đâu duyên thề, mà mơ.”

(Y Vân – bđd)
Ấy đó là chuyện đời người chỉ xảy đến, ở cuộc đời. Còn chuyện trong/ngoài nhà Đạo lại sẽ thấy khác. Khác ở điểm, là: nhà Đạo mình nói “một là một, hai là hai”, như những câu khuyên đầy tính chất giáo dục, như sau:
“Đừng để nhìn thấy nụ cười của ai đó rồi mới cười mỉm lại.

Đừng đợi đến khi được yêu thương mới thương yêu lại.

Đừng đợi đến khi cô đơn mới nhận ra giá trị của tin nhắn.

Đừng đợi đến khi có một công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu làm việc.

Đừng để đến khi mình sở hữu thật nhiều, rồi mới san sẻ đôi chút.

Đừng đợi đến khi làm người khác sầu buồn, rồi mới đi xin lỗi.


Đừng hạ thấp giá trị của mình bằng những so sánh chính mình với người khác. Bởi mỗi người là một nhân vị khác biệt, có giá trị rất khác nhau.
Đừng mải mê đeo đuổi mục tiêu nào mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ chính mình mới hiểu rõ các mục tiêu là tốt cho mình.
Đừng ngần ngại học hỏi. Bởi kiến thức là tài sản vô hình luôn là hành trang vô giá theo mình suốt cuộc đời.
Đừng ngại mạo hiểm để làm điều tốt vì ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm, qua mạo hiểm.
Đừng phí phạm thì giờ hoặc lời nói thiếu suy nghĩ, vì cả hai thứ qua đi, đều không thể lấy lại được…” (trích điện thư bạn vừa gửi, như bươm bướm)
Chẳng biết là, người nghệ sĩ viết giòng nhạc đầy những thơ luôn có câu: “Đừng, lừa dối nhau”, phải chăng ông đã thực sự nghe theo lời dặn của bạn đạo ở trên không? Duy có điều chắc, là: nghệ sĩ nay đã lặp đi lặp lại những tiếng “Đừng”, từng nghe quen:
“Đừng lừa dối nhau,

để xót xa trăng thanh ngày xưa.

Đừng lừa dối nhau,

để tiếc thương, mang trong lòng ta.

Nếu, đã biết tình yêu,

một người bước đi, một người mag theo.

Hối tiếc bao nhiêu lời,

đã trao cho người, mình yêu.”



(Y Vân – bđd)
Sự thật, mất lòng. Ngôn từ nhà Đạo khi xưa cũng mang nhiều ý nghĩa cũng tiêu cực như: “đừng có”, hoặc: “chớ nên” như chuyện hỏi/đáp giữa cố đạo và con dân ở xứ họ nọ, có lời hỏi/đáp rất như sau:
“Câu hôm nay con muốn hỏi Cha là: người giáo dân mà làm đám cưới “ngoài nhà thờ” với người nào đã ly dị rồi, vậy thì người đó có được rước Mình Thánh Chúa không? Con cũng biết là, phía người ly dị thì không thể; nhưng, còn người kia chưa từng lập gia đình với ai bao giờ, thì sao? Lý do khiến con đưa ra câu hỏi này, là bản thân con cũng biết nhiều vị vẫn lên rước Mình Chúa như thường, đượng nhiên là cha xứ cũng thừa biết chuyện này.
Đấng bậc nhà Đạo hôm nay nghe hỏi, sẽ lại trích dẫn giáo luật và/hoặc luân lý như mọi khi. Có trích dẫn gì đi nữa, cũng là để giúp giáo dân sống “tốt Đạo đẹp đời”, như thực tế cuộc đời vẫn có những sự kiện rất “tréo cẳng ngỗng” như đức ngài đề cập, rất sau đây:
“Vấn đề này làm tôi nhớ đến tình hình của Thượng Hội Đồng Giám Mục gặp gỡ ở Rôma vào tháng 10 năm 2005 để bàn về Tiệc Thánh Thể, hôm đó Đức Hồng Y Lopex Trujillo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Gia đình, đã minh định với Thượng Hội Đồng rằng: quan điểm của Hội thánh về vấn đề này, vẫn không đổi. Ai cũng biết, ước vọng của các vị làm mục vụ là vẫn muốn giúp bà con đi Đạo trong vấn đề này, nhưng giải pháp nào cũng phải theo đúng với Giáo huấn của Đức Kitô và Hội thánh của Ngài.
Chính Chúa từng nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình."(Mc 10: 11-12). Ngay từ đầu, Hội thánh vẫn vâng lời Đấng Sáng Lập rất thánh của mình là không cho phép dân con trong Đạo được ly dị hoặc làm đám cưới một lần nữa, trong nhà thờ. Xem như thế, thì những ai làm đám cưới “ngoài nhà thờ” đều bị coi là đang sống trong tình trạng rất “rối” không thể ngang nhiên rước Mình Chúa được. Điều này áp dụng cho cả những người trước đây đã ly dị một lần và cả cho phối ngẫu của người ấy nữa.
Không phải Hội thánh muốn làm khó trong việc này. Chính Chúa đã dạy Hội thánh điều này và Hội thánh buộc phải trung tín với lời dạy của Ngài. Lời Chúa dạy quyết chủ trương không được phép có sự rạn nứt trong hôn nhân và trong việc thánh hoá hôn phối. Đó cũng là điều khá hệ trọng trong cuộc sống của Hội thánh và xã hội nữa. Và, Hội thánh chẳng muốn áp đặt điều gì lên người phối ngẫu, hết. Bởi, cuối cùng ra, thì cũng chính họ là những người có tự do chọn lựa. Tự do dấn bước vào cảnh tình trong đó họ thấy mình không thể ngang nhiên lên rước Chúa mà không có phép chuẩn của Hội thánh.
Dù họ không được phép rước Mình Chúa, Hội thánh với tư cách là mẹ hiền vẫn mở rộng tay chào đón đàn con mình về với các sinh hoạt khác, như: tham dự Thánh lễ thường xuyên, cầu nguyện, đọc sách thánh, tham gia công tác từ thiện, bác ái hoặc một sinh hoạt nào khác trong giáo xứ. Bởi lẽ, cả hai người lẫn cộng đoàn Nước Trời đều hy vọng đợi đến khi nào hai người được chuẩn thuận để nhận đón Mình Thánh Chúa sau khi Toà án Giáo hội đã tuyên bố huỷ bỏ hôn nhân nào, có vào lúc trước. Nhờ vậy, họ mới quyết định sống với nhau như bạn hoặc chờ cho người phối ngẫu kia qua đời, mới thôi.

Mặt khác, mọi người cũng không nên xét đoán điều gì. Chỉ mỗi linh mục mới có quyền cho phép hai người, trong hoàn cảnh này, được rước Chúa, mà thôi. Có thể là, vị linh mục ấy không am tường tình trạng hôn phối của hai người, trước đó. Hoặc có thể là, ngài cũng biết rõ cảnh tình của hai người nay đã đổi thay theo chiều hướng vừa kể, để rồi cả hai đều có thể rước Chúa vào lòng.


Dĩ nhiên, điều mà các linh mục không được phép làm, là: bịt mắt che tai chẳng ngó ngàng gì đến tình cảnh vốn đưa hai người đến chỗ lầm lẫn với giáo huấn của Hội thánh về tính bất khả phân ly, của hôn nhân, như thư luân lưu của chủ tịch Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin lúc ấy là Hồng Y Joseph Ratzinger gửi đến các giám mục trong Hội thánh, ngày 14 tháng 9 năm 1994, với lời lẽ như sau: “Thành viên nào trong cộng đoàn kẻ tin từng chung sống với nhau theo kiểu vợ chồng với người chưa có đám cưới chính đáng thì không thể rước Mình Thánh Chúa được. Dù họ nghĩ rằng mình được phép làm việc đó, thì khi ấy vị mục tử và đấng giải tội phải cắt nghĩa tính cách nghiêm trọng của vấn đề, để rồi có lời giảng giải tốt lành về đàng thiêng liêng cho cả hai.” (1 Cr 11: 27-29) Cũng thế, vì sự tốt lành của Hội thánh, vị mục tử ấy có trách nhiệm rất nghiêm túc là phải nhắc nhở cho hai người biết rằng nghĩ tưởng như thế là đi ngược lại giáo huấn của Hội thánh.” (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt Publishing 2008, tr. 128-129)
Nói như đấng bậc nhà Đạo vừa trích dẫn ở trên, cũng là nói chữ “đừng” rất thẳng thừng. Mạnh bạo và bài bản. Bài và bản, ở chỗ: “chớ nên làm” và “đừng làm” những gì mà giáo huấn Hội thánh không cho phép. Nên chăng, những luật lệ gồm nhiều chữ “đừng” và “chớ” vẫn lạc lõng ở xã hội hiện giờ? Những luật và lệ xa lạ với người trẻ, tựa hồ như chia rẽ dân con mọi người, khiến ai nấy đều sợ sệt, chỉ nhắm thực hiện điều tiêu cực, mà thôi?
Nói chữ “đừng” như thế, là kể thêm một loại hình như “kinh cầu (đầy những) chữ”, với tiếng “đừng” và “đừng”, rất nên mừng còn thêm:
“-Đừng quên hy vọng, bởi niềm hy vọng mang lại cho bạn sức mạnh để tồn tại, khi bạn bị bỏ rơi.

-Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân, chỉ cần tin mình có thể làm được. Và khi đó, mình có lý do để thực hiện những chuyện đó.

-Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hoặc thất bại. Bởi, chính tâm hồn mỗi người mới xác định được mức độ “giàu sang” của cuộc sống.

-Đừng để khó khăn đánh gục mình, vì đó là niềm hạnh phúc nhất của riêng mình.

-Đừng chờ đợi những gì mình mong muốn, nhưng hãy tìm kiếm chúng.

-Đừng chối từ nếu mình còn có gì để cho người khác.

-Đừng ngại ngần thừa nhận rằng mình vẫn chưa trọn hảo.

-Đừng ngại đối mặt với thử thách. Vì chỉ khi thử sức, mới học được tính can đảm.

-Đừng đóng cửa con tim và cản trở tình yêu thương đến với mình chỉ vì chính mình nghĩ rằng không tìm ra được nó. Cách mau chóng nhất để nhận được tình thương là cho đi. Cách nhanh nhất để mình mất đi tình thương là giữ chặt nó, cho riêng mình. Hãy cho nó đôi cánh để tự bay đi, mỗi khi cần.

-Đừng đi quá nhanh trong sự sống để quên mất là mình đang ở nơi nào; thậm chí, quên rằng mình đang đi trên con đường của hạnh phúc.

-Đừng để quên nhu cầu cảm xúc cao của mỗi người là có được sự tôn trọng.

-Đừng ngại học hỏi. Kiến thức không có giới tuyến. Kiến thức là kho báu ta có thể mang theo, vào mọi lúc.

-Đừng sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn, vì hai thứ ấy, không thể lấy lại.

-Đừng bao giờ cho mình đã thất bại khi mọi kế hoạch cũng như giấc mộng của mình bị sụp đổ. Bởi, biết thêm điều mới mẻ thì chính đó là lúc mình đã tiến bộ rồi.

-Đừng quên cười mỉm trong cuộc sống.

Đừng ngại tìm người bạn đích thực. Bạn bè là điều cần thiết trong cuộc sống.

Cuối cùng, đừng quên ơn những người đã trao tặng mình cuộc sống hôm nay kèm theo tất cả những gì mình cần có. Bởi, con cháu đời sau sẽ coi mình như gương lành cho chúng…” (trích điện thư bạn bè vừa gửi, mới đây thôi).

Đừng gì thì đừng. Có “đừng” cho lắm, cũng bấy nhiêu thôi. Bởi, cuối cùng ra, chớ có ngừng lại khi đã cảm thấy thoải mái trong yêu thương. Nâng đỡ. Giùm giúp lẫn nhau. Bởi, Đấng Nhân Hiền Chí Ái vẫn nói nhiều, khuyên nhiều chữ “Hãy” hơn là từ ngữ “Đừng”, ở Tin Mừng. Như sau:


“Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh thanh niên

và đem lòng yêu mến.

Người bảo anh ta:

"Anh chỉ thiếu có một điều,

là hãy đi bán những gì anh có

mà cho người nghèo,

anh sẽ được một kho tàng trên trời.

Rồi hãy đến theo tôi."

(Mc 10: 21-22)
Ngoài nhà Đạo, nghệ sĩ đời cũng nhấn mạnh đến ca từ chứa chan hy vọng ở câu điệp khúc:
“Nhưng, tình yêu ngờ đâu

là mây theo gió đưa.

Nên, nhiều khi mộng mơ

làm quên bao xót xa.

Ngày đến, bao mặn mà

Ngày bước đi hững hờ

vì trót yêu, nên đành

Người quên vẫn quên

Người thương vẫn thương…”

(Y Vân – bđd)


Bởi thế nên, một khi bạn và tôi ta thực hiện được chữ “Hãy” ở trên, thì cuộc sống của tôi và của bạn, sẽ không còn gì để kèm thêm chữ “đừng” vào cuộc sống nữa. Thế đó, là đề nghị của bần đạo cũng như bạn đạo, rất hôm nay.
Trần Ngọc Mười Hai

cũng có những đề nghị

rất nho nhỏ.

Trong cuộc đời.


__________________________________________________________________


15. “Thời gian nào, trôi bềnh bồng trên phận người”

Biệt ly nào không buồn phiền trên dấu môi…”

(Vũ Đức Sao Biển – Thu Hát Cho Người”)
(Mt 18: 3)

Là Thu, đã hát cho Người, mà sao anh vẫn cứ bảo:“Thời gian nào, trôi bồng bềnh trên phận người.”? Để rồi, lại còn viết: “Biệt ly nào không buồn phiền, trên dấu môi!” Phải chăng, nói như thế, tức bảo rằng: đời người, nào có vui?


Bần đạo đây, không đủ tư cách để trả lời những câu hỏi mang ý nghĩ ly kỳ như thế. Chỉ dám vin vào lời lẽ của tác giả viết nhạc buồn bằng cách trích dẫn một chuyện vãn văn nghệ với phóng viên tuần báo “Sinh viên” như sau:
“Âm nhạc là thú chơi, quà tặng của cuộc sống dành cho con người. Tình khúc của tôi không ồn ào, sôi động, nó là bức thông điệp của một người gửi đến đám đông những suy tưởng về cuộc sống, tình yêu và sự xa biệt", nhạc sĩ của "Điệu buồn phương Nam" và "Thu, hát cho người" tâm sự…
-"Thu, hát cho người" của ông đã gây xúc động cho người nghe bởi sự biệt ly, cô đơn và lẻ loi trong chờ đợi, ông viết bài này trong hoàn cảnh nào?
-Tôi viết năm 1968, khi 20 tuổi, với một tình yêu trong sáng và những cảm xúc yêu thương rất thuần khiết. Nhưng rồi cũng chỉ là một tình yêu đơn phương, vô vọng và chia xa...
- Ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng, tất cả các bài hát của ông đều mang tâm trạng buồn?
- Quả thật tôi viết không có bài nào vui. Cả trăm ca khúc là cả trăm nỗi buồn, mỗi bài một vẻ. Có khi tôi cũng thử viết một vài ca khúc sôi động, nhưng rồi cảm thấy gượng ép quá, không viết nữa. Bây giờ nghiệm lại, tôi chỉ có thể viết theo những lắng đọng từ trong tim dẫn dắt và bật ra thành lời ca, nốt nhạc, thế thôi.
- Ngoài sáng tác, ông còn viết báo. Hai việc đó, một đòi hỏi sự tỉnh táo, khách quan, một cần sự bay bổng, lãng mạn. Tại sao chúng dung hòa được trong ông?
- Viết báo và sáng tác có phương tiện, cách thức thể hiện khác nhau nhưng đích đến vẫn là một: lòng yêu thương con người, nên cũng không có gì mâu thuẫn cả. Đi làm báo, tiếp xúc với những số phận con người, lòng tôi lúc nào cũng tràn ngập cảm xúc khó tả. Đêm về, nằm nghĩ lại, nhiều khi trăn trở ấy lại tạo mạch cảm hứng cho tôi viết ca khúc…
-Điều ông luôn tìm kiếm để vươn tới trong suốt cả cuộc đời mình là gì?
-Tình yêu. Đó là thứ quý giá nhất trong cuộc sống. Chính tình yêu thương con người đã chắp cánh cho tâm hồn và cả nghị lực sống của tôi, cho tôi cảm xúc thăng hoa trong sáng tác... và tôi là người lữ hành đam mê tình yêu... (x. music.vietvoice.net/song_details.php?lang=vietnamese&ID=430)
Vâng, lập trường của tác giả “nhạc buồn” họ Vũ Đức tên gọi Sao Biển là như thế. Thế nhưng, “như thế” không có nghĩa là tất cả những người viết nhạc nào khác, đều như vậy. Tức là, toàn viết những giòng nhạc buồn chứ không vui. Dù đời người quả thật vẫn vui, chứ không buồn. Và, tiếp theo đó, là lý do của những “Thu hát cho người” hoặc “Điệu buồn (rất) phương Nam”, của ông:
“Thời trung học, cứ mỗi lần đi học ở trường Tiểu La, tôi vẫn có thói quen hay uống café tại một quán rất quen thuộc tên là Café Thu. Quán giản dị với những chiếc bàn đã cũ kỹ theo năm tháng. Ngày ấy, ở thị trấn Hà Lam (Thăng Bình, Quảng Nam), ai cũng biết quán này, chủ nhân là một người đàn bà trên 30 tuổi, nhưng còn rất đẹp và sâu lắng. Một điều đặc biệt, café ở đây rất ngon, nhạc hay và buồn như chính chủ nhân của nó. Lúc bấy giờ, thứ “nhạc vàng” này, người ta thường hay cấm nên mỗi khi nghe xong, tôi nuốt từng lời, về nhà chép lại và tập với cây đàn guitar cũ. Chính vì thế, tội thuộc rất nhiều nhạc của các nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên,… Trong lúc rỗi, tôi cũng thường nói chuyện với chủ quán, những lúc như vậy, đôi mắt cô Thu thừơng đượm buồn, xa xăm, nhớ về một dĩ vãng không xa lắm…” (Trích cảm nghiệm của tác giả Sao Biển qua điện thư buồn của bạn hiền, gần đây)
Gợi nhớ điệu buồn nghệ sĩ viết, thì như thế. Thế còn, hồi ức vui của tôi và của bạn, sẽ ra sao?
Ra sao hay ra răng, bần đạo đây rày chẳng biết. Chỉ biết mỗi một điều, là: xung quanh hồi ức về Đạo của riêng mình, vẫn thấy rất nhiều điều lạ và vui hơn nỗi buồn trăm năm, của nhà thơ. Buồn sao được, khi bần đạo mới ở độ tuổi “hai năm rõ mười”, vào cái tuổi rất ư là phá phách/nghịch ngợm, đến phát sợ. Không chỉ phá, còn là la cà ngoài đường chòm xóm những bay nhảy, cùng chạy rong đã bị -ấy chết, nói “được” thì đúng hơn- Vâng! Bần đạo được mẫu thân gọi lại mà nhủ bảo nhiều điều rất vui và chí tình mà đến bây giờ, hơn 50 năm sau nhìn lại, bần đạo vẫn còn nhớ như in trong hộp não vừa bé lại vừa tệ, hơn ai hết. Mẫu thân bần đạo, là cụ bà chân chất xuất thân từ đất Hà Nam - Phủ Lý, rất quê nhà. Cụ sống nhiều năm ở chốn thị thành, vốn dĩ thiếu niềm vui nhà Đạo, nên mới gọi bảo:
“Con à. Nhà mình thì đông đúc, giòng họ lại sung túc nhiều, thế mà chẳng được một ai chịu làm việc trong nhà Chúa để được vui đuợc sướng, ở chốn này. Hay là, con thử tìm đến hỏi cha xứ họ mình hỏi xem ngài có bằng lòng cho con theo học để đời con được sướng vui không con nhé…”
Hồi ức của bần đạo tuy không sắc và thanh tao như người nghệ sĩ nhắc ghi ở trên. Duy, có một điều khiến bần đạo nắm chắc rất rõ là: ý của mẫu thân bần đạo khi ấy chỉ muốn cho bầy con sống sung sướng với cha với Chúa, chứ chẳng mong cho buồn con khổ như bất cứ ai trên đời, chí ít là người nghệ sĩ. Mẫu thân bần đạo, vốn xuất thân từ chốn quê mùa chân chất, rất đạo hạnh, nên nghĩ thế. Cụ vẫn tưởng rằng sống Đạo ở đời bao giờ cũng vui, cũng sướng hơn người đời chỉ ca với hát hết những bài “Thu hát cho người”, rồi lại đến “Điệu Buồn Phương Nam”, nên mới thế.
Hôm nay nghe lại lời ca sầu phát ra từ loa phóng thanh của ai đó, bên hàng xóm, bần đạo thấy như văng vẳng một lời trần (rất) tình, biết đâu trong giọng buồn ấy, mình lại tìm ra lời ca vui ở câu cuối. Câu hát rằng:
“Giòng sông nào, đưa người tình đi biền biệt?

Mùa thu nào, đưa người về thăm bến xưa?

Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ,

Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ…”

(Vũ Đức Sao Biển – bđd)
Nhớ người vô bờ, ở “đồi sim” không là chỉ nhớ mỗi lời buồn của người đời, mà thôi. Dù, người đó có là mẹ đẻ ra mình, hay của người cha ở bốn phương tám hướng, phía chân trời bể dâu, vẫn là nhớ. Nhớ, là bởi bậc mẹ cha ở đời hay trong Đạo, vẫn là các đấng các bậc có những lời thơ để đời, mong ta ghi và nhớ, rất như sau:
“Trong bài nói chuyện với người trẻ ở Madrid sau Đại Hội Giới Trẻ một ngày, Đức Bênêđíchtô 16 kêu gọi giới trẻ hãy đem theo những gì mình học được từ Đại hội Madrid về nhà mà san sẻ cho cộng đồng. San sẻ niềm vui đức tin mình học được: “Anh em đừng giữ Chúa cho riêng mình. Hãy san sẻ với người khác, niềm vui ấy” (www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/08/110822_pope_closed_wyd.shtml?pri...)
Lời Đức Giáo Tông nói lên hôm ấy đã khiến nhiều người nhớ đến Lời Chúa từng phán bảo:
“Thầy bảo thật anh em:

nếu anh em không hoán cải nên như trẻ bé,

anh em sẽ chẳng vào được Nước Trời.”

(Mt 18: 3)


Người trẻ bé mọn ở đây, là người còn nghèo và cũng rất hèn, bị bỏ rơi hoặc quên lãng ở xó chợ, ngoài xã hội. Những người ấy, vẫn dẫy đầy nơi đất trời, ở mọi nơi. Nhưng hỏi rằng, trời kia đất ấy có nhớ họ không, đó mới là vấn đề. Và, vấn đề nay còn nhạy cảm như lời đấng bậc chủ quản ở trời Tây đất Mẹ cũng đề cập đến Đại Hội Giới Trẻ ở Madrid 2011 hôm vừa qua, cùng với những lời trần rất chí tình cũng giản đơn, chân chất, thành thật như sau:
“Trong lúc Hội thánh Công giáo tìm cách giúp đỡ người trần đến được Nước Trời, thì rất thường là Hội thánh hay đối xử với thành viên trẻ của mình như thể họ đến từ một hành tinh nào đó, khá xa xôi. Ý tưởng đối xử với người trẻ như người từ hành tinh mới xuất hiện, là của một viên chức cao cấp trong Giáo triều La Mã, đã nói thế trong cuộc phỏng vấn bên lề Đại Hội Madrid hôm 16/8/11.
Phát biểu với phóng viên Đại Hội, Tổng Giám Mục Joseph W. Tobin, Tổng Thư Ký Thánh Bộ Tu Sĩ và các Tu Hội Sống Đời Mục Vụ, có nói: “Người trẻ hôm nay có thể tìm thấy chính mình ngay trong lòng Hội thánh; nhưng cho đến nay, họ vẫn trong tư thế sống bên lề Hội thánh do bởi một số chuyện như: rất nhiều vị không nói cùng một thứ ngôn ngữ như họ, nên đã đối xử với họ như với người từ hành tinh khác chợt đến.”
Với người trẻ Công giáo, Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới vẫn là lễ hội qua đó họ có thời gian, không gian và tình bằng hữu thân thưong cần có, để có thể suy tư về đường lối mà Chúa muốn họ sống niềm tin tươi mát ngay trong Hội thánh, cũng như giữa lòng ðời. Thêm vào ðó, có sự kiện cho thấy ngýời trẻ hôm nay đang sẻ san kinh nghiệm tý riêng của mình với cả trăm ngàn bạn trẻ khác đến từ khắp nơi, trên thế giới. Đại Hội nay đem đến cho họ một dịp may hiếm có để họ có thể tham gia vào nghi thức phụng vụ, cùng nguyện cầu trong lặng thinh cũng như tìm hiểu thêm huấn giáo của Đạo, dành cho mình.
Với những ý tưởng như thế, đấng bậc chủ quản trên còn nói thêm: “Trong khung cảnh như thế này, người trẻ hôm nay còn có cơ hội gặp gỡ bầu bạn đang dấn thân vào cuộc đối thoại mà tất cả chúng ta cần có với Đấng Tác Tạo nên mình, bằng cách hỏi Ngài: “Chúa muốn con làm gì?”
Tổng Giám Mục Tobin còn cho biết: cuộc hội ngộ dành cho giới trẻ rất cần thiết cho những ai suy nghĩ về những đáp trả lời gọi mời đi vào cuộc sống chuyên tu giáo sĩ hoặc đời tu trì, và cho cả những vị từng dấn thân vào hành trình có lời tuyên hứa hoặc đã được tấn phong. Nói về những việc chính yếu sau Đại Hội có tầm vóc quốc tế này, Tổng Giám Mục cũng nói đến việc Hội thánh cần làm sau ngày Đại Hội, là: bám riết và hỗ trợ giới trẻ một khi Đại Hội bế mạc. Tổng Giám Mục Tobin công nhận: “Đây là thách thức không nhỏ đính kèm với kinh nghiệm mang nhiều cảm tính đã diễn ra. Nếu đây là điểm chuẩn cho mọi công tác về sau, thì cũng khó mà tái tạo được nó. Hãy hỏi các cặp vợ chồng trẻ mới cưới để xem họ cảm nghiệm thế nào trong đời mình, khi phải giáp mặt thực trạng cuộc sống cụ thể, như: phải giải quyết cả thau nồi niêu bát dĩa ngập đến đầu từ lâu, chưa kịp rửa. Hãy cứ hỏi những cặp vợ chồng có con còn nhỏ đang đau yếu hoặc những cặp vừa lấy nhau xong đã mất việc. Hỏi, để biết rằng niềm vui ngày mới cưới nào đã kéo dài, mãi thiên thu.
Dĩ nhiên, yêu đương là một nghệ thuật ở đời. Nhưng đó vẫn là nghệ thuật đòi hỏi nhiều kỷ luật và thao tác, đôi lúc cũng dẫn đến thất bại. Nhưng, bất cứ ai đương yêu cũng đều biết mình có cả một đời để sống và làm cho đúng hết mọi việc. Đấng bậc tu trì nào từng tiếp xúc với bất kỳ người trẻ ở đâu, cũng đều coi đó như phút chốc của mời gọi. Mời và gọi, là bởi giới trẻ bao giờ cũng kiếm tìm một giải pháp thoả đáng cho đời mình, xem mình có thích hợp với khuôn khổ đời tu hay không. Bởi thế nên, đấng bậc tu trì cũng cần để tai mà lắng nghe tâm tư của người trẻ. Biết rõ lai lịch họ và gọi mời họ thử xem đời sống tập thể với tu trì có thích hợp với điều mình kiếm tìm không.
Là đấng bậc chuyên đặc trách về Đời Tu, nên Tổng Giámmục Tobin cũng để ý nói: “Người trẻ không muốn các đấng bậc tu trì đánh giá thấp hoặc coi nhẹ đòi hỏi của Tin Mừng mình nghe biết. Thông thường, người trẻ chỉ dấn thân tham gia đời sống tu trì cộng đoàn mỗi khi được yêu cầu, mời gọi thôi. Và Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới là cung cách yêu cầu họ sống đáp trẻ lời mời gọi ấy.“
Ngay tại các nước bị lung lay sau những vụ tai tiếng do một số giáo sĩ mắc phải lầm lỡ/sơ xuất qua phong cách xách nhiễu tình dục, nay vẫn thấy có ơn gọi giáo sĩ và đời tu: “Bản thân tôi, tôi nhìn sự việc bằng ánh mắt lạc quan ngay cả vào ngày đen tối xảy đến vụ 9 tháng 11 ở Hoa Kỳ. Khi ấy, tôi thấy nhiều người tìm cách tháo chạy khỏi hai toà nhà chọc trời đang bị hun cháy, thì cùng lúc ấy vẫn thấy có những người trẻ vẫn chạy về phía khói đen mù mịt có lửa bốc thiêu rụi cả con người lẫn vật dụng. Trong số những người ấy, tôi thấy có cả lính cứu hoả, cảnh sát cũng như nhân viên cứu trợ, đầy đủ cả. Ngay trong lòng Hội thánh cũng thế. Dù một số vị đang bị tai tiếng làm lung lay, suy sụp thì nỗi niềm giận dữ, nghiêm khắc vẫn rực sáng và có nhiều người trẻ vẫn cứ chạy về phía đó. Nhìn kỹ mới thấy, cái lôgích rất rồ dại của cuộc sống là chấp nhận có mất mát trong đời mình, có thế mới cứu vãn được chính nó.” (x. Cindy Wooden, “Church must not treat the young as aliens”, The Catholic Weekly 21/8/2011, tr. 23)
Về với chuyện buồn vui đời người, là về với nghệ sĩ vui cứ viết lên ca từ buồn, sau đây:
“Ta vẫn chờ em, dưới gốc sim già đó,

Để hái dâng người, một đóa đẫm tương tư,

Đêm nguyệt cầm, ta gọi em trong gió.

Sáng linh lan, hồn ta khóc bao giờ.

Ta vẫn chờ em, trên bao la đồi nương,

Trong mênh mông chiều sương,

Giữa thu vàng bên đồi sim, trái chín

Một mình ta, ngồi khóc tuổi thơ bay.”

(Vũ Đức Sao Biển – bđd)

Nói cho cùng, thì buồn vui đời người đâu nằm ở nơi lời nói, hoặc câu ca. Nhưng vẫn cứ là và có thể là ý tưởng/lập trường sống, có chọn lựa. Chọn mừng vui hay buồn chán, cả một đời, vẫn còn đó âm hưởng của lời ca, không vui lắm:

“Thời gian nào, trôi bềnh bồng trên phận người,

Biệt ly nào, không muộn phiền trên dấu môi.

Mùa vàng lên, biêng biếc bóng chiều rơi,

Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người.


Thu hát cho người.

Thu hát cho người, người yêu ơi! “

(Vũ Đức Sao Biển – bđd)

Tắt một lời, hãy nói và hát như nghệ sĩ ngoài đời, ở đời thường, dù có viết bài ca những là “Thu hát cho người”, thế nào đi nữa, cuối cùng vẫn cùng ông công nhận rằng: “Tình yêu. Đó là thứ quý giá nhất trong cuộc sống. Chính tình yêu thương con người đã chắp cánh cho tâm hồn và cả nghị lực sống của tôi, cho tôi cảm xúc thăng hoa trong sáng tác. Và, tôi là người lữ hành đam mê tình yêu...”


Nếu vậy thì, xin mời bạn và mời tôi, mời cả các vị trong ngoài nhà Đạo, ta hãy dấn thân vào giòng đời, mà giữ Đạo. Cứ thế mà sống Đạo, vẫn rất đạo. Dấn thân, để rồi sẽ luôn nghe theo lời dặn dò của Đức Chúa từng ở Tin Mừng, với mọi người, rằng:
“Nếu anh em không hoán cải

trở nên như người trẻ/bé nhỏ,

anh em sẽ chẳng vào được Nước Trời đâu.”

(Mt 18: 3)


Người trẻ nhỏ bé mọn vừa qua đã đặt chân đến thủ phủ Madrid ở Tây Ban Nha hoặc ở đây, nơi này vẫn là bạn, là tôi, đang sống giữa cuộc đời có cả điều buồn lẫn chuyện vui. Nhưng còn gì vui hơn, khi người người nay áp dụng lời dạy của Thầy Chí Ái, mà sống thực đời mình, cùng mọi người.
Sống rất vui, bên cạnh những người buồn. Sống tinh thần trẻ, cả trong lòng Giáo hội nay đã già. Già, nơi thân xác. Đầu óc. Nhưng không già, trong quyết tâm đổi mới với Lời Chúa, ở quanh ta.
Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn nhớ nhiều

những điều Thầy từng dạy,

rất như trên.


__________________________________________________________________




tải về 2.12 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   25




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©ua.originaldll.com 2024
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương